HỘI THẢO CHUYÊN MÔN CHUYÊN ĐỀ: “ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCS“

Tháng Mười Một 6, 2017 2:17 chiều

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCS
I. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo ra khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Để đạt được mục tiêu này việc thay đổi PPDH theo hướng coi trọng người học, coi học sinh là chủ thể hoạt động, khuyến khích các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trình dạy học là cần thiết.
Trong dạy học ngoại ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm bắt các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của các em.
Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thầy cô thuyết trình, phân tích ngôn ngữ – trò nghe và ghi chép thành PPDH mới, trong đó thầy cô là người tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của học sinh, còn học sinh là người chủ động tham gia vào các hoạt động học tập.
Tiêu chí cơ bản của PPDH mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động của học sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ. Tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp, năng lực ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể.
II. CĂN CỨ:
Đổi mới PPDH cần phải căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ và đặc điểm sinh lý của học sinh.
1. Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:
– Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhà trường.
– Môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa kiến thức ngôn ngữ và kĩ năng ngôn ngữ. Kĩ năng là trung tâm, là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Kiến thức là điều kiện, là phương tiện, là nền tảng. Chỉ có kiến thức mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, và ngược lại, chỉ có kĩ năng mà không có kiến thức thì khả năng giao tiếp bị hạn chế và không phát triển được.
– Dạy học ngoại ngữ thực chất là rèn luyện năng lực giao tiếp dưới các dạng : nghe, nói, đọc, viết .Muốn rèn luyện được năng lực giao tiếp cần có môi trường với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp và học sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể.
– Học ngoại ngữ đồng thời học sinh tiếp cận với đất nước, nền văn hóa xa lạ. Mức độ tiếp cận thông tin ngày càng cao thì việc dạy học càng thuận lợi. Điều này đòi hỏi nhiều thiết bị dạy học ( nghe- nhìn, nghe –nói) và nhiều hình thức dạy học linh hoạt.
– Mục dích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hướng học sinh vào việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ, mà nhằm giúp các em sử dụng hệ thống ngôn ngữ đó như một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyện cho học sinh năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp này được biểu hiện bằng khả năng sử dụng sáng tạo những quy tắc ngôn ngữ để thực hiện giao tiếp theo tình huống.
– Như vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không phải là biết hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt được mục đích giao tiếp.
2. Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh:
Khi học ngoại ngữ, học sinh THCS có nhiều điểm khác với học sinh tiểu học ở những mặt sau :
– Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ ( ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp).
– Khả năng tưởng tượng linh hoạt, lôgic hơn; nhất là dễ dàng so sánh liên tưởng sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ và tiếng mẹ đẻ.
– Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằng ngoại ngữ ( Tiếng Anh) lưu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ nhanh.
– Rất hứng thú và tích cực trong các hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng ngôn ngữ, nhất là 2 kĩ năng nghe và nói, nhưng cũng dễ chán nản trong việc luyệ tập và phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ như kĩ năng đọc hiểu vì gặp từ mới trừu tượng, khó đoán nghĩa; hoặc như kĩ năng viết vì cảm thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tưởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết.
– Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sử dụng được ngoại ngữ nhưng khả năng độc lập trong học tập chưa tốt( ví dụ còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói). Học sinh ít có cơ hội để luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năng ngôn ngữ nên kết quả học tập chưa cao nên dễ chán nản, bỏ cuộc. Vì vậy các em cần phải thường xuyên được sự khuyến khích, động viên kịp thời của giáo viên, và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các phương pháp dạy học thích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ của các em.
3. GIẢI PHÁP:
PPDH Tiếng Anh theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập.
Ngày nay, người ta đặc biệt quan tâm tới việc áp dụng phương pháp giao tiếp vào quá trình giảng dạy Tiếng Anh. Giáo viên luôn luôn coi trọng việc hình thành và ưu tiên phát triển các kĩ năng giao tiếp ( nghe, nói, đọc, viết ). Đồng thời, việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ ( ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) là quan trọng, góp phần hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp.
Việc áp dụng phương pháp Giao tiếp (có sự kết hợp với các phương pháp dạy học khác) tronh quá trình dạy học Tiếng Anh ở THCS được thực hiện như sau:
Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ ( nghe, nói, đọc, viết) điều được quan tâm và được phối hợp trong các bài tập và các hoạt động trên lớp.
Kỹ năng nghe: là kĩ năng luôn được sử dụng ( phối hợp với kĩ năng đọc) để giới thiệu ngữ liệu hoặc nội dung bài học mới. Ngoài ra, kỹ năng nghe còn được rèn luyện từng bước thông qua các bài tập nghe khác nhau như nghe lấy ý chính, lấy thông tin, nghe hiểu để đoán nghĩa của từ qua ngữ cảnh,…
Kỹ năng nói được dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng ngôn ngữ và với các kĩ năng khác, thông qua các bài hội thoại, mẫu hội thoại ngắn hoặc các nội dung chủ điểm của bài.
Kỹ năng đọc, ngoài ý nghĩa được sử dụng làm phương tiện giới thiệu nội dung và ngôn ngữ mới, còn được phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đích khác nhau như đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lướt, đọc lấy ý chính, đọc tìm thông tin cần thiết…với các loại bài khác có văn phong khác nhau như văn bản viết, văn bản nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, văn vần, …
Kỹ năng viết cơ bản được dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã được học. Ngoài ra, còn có những bài tập dạy viết có mục đích như viết thư cá nhân, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vào các bài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận định hoặc ý kiến đưa ra.
Ngữ liệu mới được giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe và đọc, sau đó được luyện tập thông qua cả 4 kĩ năng. Có nghĩa là sẽ không có các mục dạy tách riêng cho phần ngữ âm, ngữ pháp, hay từ vựng trong từng bài học mà các yếu tố ngôn ngữ sẽ được dạy lồng ghép với nhau và phối hợp với việc phát triển kĩ năng cụ thể là:
+ Ngữ pháp được xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và được luyện tập trong ngữ cảnh; sau đó được chốt lại một cách có hệ thống sau một số bài học và ở cuối sách giáo khoa. Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúc ngữ pháp sẽ được luyện tập một cách có hẹ thống trong sách bài tập kềm theo cuốn sách giáo khoa.
+ Từ vựng cũng được xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt được mức độ ngữ cảnh hóa cao, giúp học sinh dễ tiếp thu và nhớ lâu. Các bài tập sử dụng từ vựng thường được phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tập nghe, nói, đọc, viết.
+ Ngữ âm được coi là một bộ phận mật thiết gắn liền với các hoạt động lời nói, được dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe và dạy nói.
+ Hệ thống các bài tập và hoạt động dạy học được thiết kế theo trình tự dạy học đi từ giới thiệu ngữ liệu, luyện tập có hướng dẫn đến vận dụng.
Các bài tập và hoạt động dạy học chú trọng khuyến khích học sinh áp dụng ngữ liệu đang học với các kiến thức có sẵn để diễn đạt các nội dung khác nhau trong chính dời sống thực tế của các em. Hệ thống bài tập đặc biệt chú trọng những nguyên tắc chuyển đổi thông tin ( information transfer), nguyên tắc tạo khoảng trống thông tin ( information gap), hay nguyên tắc cá thể hóa ( personalization), nhằm không những giúp học sinh nắm được hệ thống cấu trúc ngữ pháp mà còn biết ứng dụng để diễn đạt các nội dung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thực tế của học sinh.
IV ĐỔI MỚI PPDH TẠI TRƯỜNG THCS NAM TOÀN:
1. Tình hình thực tiễn và khó khăn:
Phần lớn học sinh THCS nói chung và học sinh trường THCS Nam Toàn nói riêng có đầu vào Tiếng Anh còn rất thấp do đặc thù môn Tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai, các em học chương trình hệ 7 năm nên đôi khi việc tiếp cận còn thấy khó và bỡ ngỡ ở cấp THCS, mặc dù một vài năm gần đây môn Tiếng Anh cũng rất quan trọng trong quá trình thi cử nhưng vẫn chưa khích lệ đươch học sinh học tập một cách hứng thú say mê.
Cũng giống như phần lớn giáo viên các trường THCS, giáo viên Tiếng Anh trường THCS Nam Toàn chúng tôi còn gặp không ít những trở ngại khác khi tiến hành đổi mới phương pháp dạy học. Đó là mặc dù có ý thức cao về đổi mới phương pháp dạy học, nhưng do lượng kiến thức cần truyền đạt quá nặng so với thời gian, điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện dạy học còn thiếu, việc thi cử, đánh giá chưa khuyến khích phương pháp dạy học tích cực: ví dụ trên lớp các con học cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết nhưng đi thi chỉ tập trung vào phần đọc, viết, ngữ pháp vì vậy các con sao nhãng các kỹ năng còn lại.
2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học môn Tiếng Anh:
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn và cũng rất may mắn cho bản thân tôi vừa qua được tham gia tập huấn đào tạo về đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Anh “Teaching for success” do Sở GD-ĐT Nam Định phối hợp với Hội Đồng Anh tổ chức. Bản thân tôi cũng học tập và lĩnh hội được rất nhiều phương pháp hay do các thầy cô người nước ngoài hướng dẫn. Đồng thời đứng trước tình hình thực tiễn như vậy tôi xin mạo muội chia sẻ một số kinh nghiệm của bản thân nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Anh ở trường THCS Nam Toàn
Thứ nhất : Như tôi đã trình bày ở trên đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống vì vậy tôi vẫn đề cao vai trò của giáo viên trong việc thiết kế các hoạt động khoa học để giới thiệu ngữ liệu mới (ví dụ như dạy từ vựng và cấu trúc ngữ pháp cho học sinh) hoặc dạy cho học sinh kỹ năng khi đọc, nghe, viết… vì đối với học sinh học khá, giỏi các con sẽ tự tìm tòi và tra cứu nhưng đối với đối tượng học sinh như của trường chúng ta nếu giáo viên không phát huy vai trò của mình thì học sinh sẽ không có kiến thức, lâu dần sẽ hổng kiến thức và sợ học.
Thứ 2: Khi soạn giảng bài giáo viên cần kết hợp các phương pháp đặc thù môn học để vừa giới thiệu, vừa gợi mở từ học sinh hoặc cho học sinh làm việc theo cặp, nhóm tổng hợp kiến thức theo sơ đồ tư duy, hoàn thiện phiếu bài tập được thiết kế khoa học và có tính sáng tạo để lĩnh hội tri thức dễ dàng hơn.
Thứ 3: Định hướng, hướng dẫn, giao các nhiệm vụ để học sinh phát huy tính sáng tạo nghiên cứu tìm tòi theo một chủ đề, 1 dự án rồi thuyết trình trước lớp ( nhiệm vụ này thường mang lại hiệu quả rất tốt đối với đối tượng học sinh khá và giỏi.)
Thứ 4: Đổi mới phương pháp dạy học phải gắn liền với đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá.
Theo tôi nên kết hợp nhiều phương pháp đánh giá đối với nhiều đối tượng học sinh trong 1 nhóm, 1 lớp hay trong các lớp mình giảng dạy. Việc đầu tiên không thể không kể đến đó là kết hợp kiểm tra học sinh trong tiến trình bài học: có thể cả kiến thức cũ và mới, không nhất thiết phải kiểm tra đầu giờ.
(Ví dụ: Tôi thường cho điểm cao những học sinh tích cực hoạt động và đóng góp vào tiến trình bài giảng của minh, khích lệ các em tích cực trong giờ và mạnh dạn trong giao tiếp.)
Duy trì việc kiểm tra đều đặn thường xuyên (có thể cả lớp, có thể một nhóm nhỏ học sinh hay một học sinh đơn lẻ) kết hợp với chính sách thưởng phạt sẽ tạo cho các con có nếp học, nếp chuẩn bị bài và đảm bảo chuẩn kiến thức.
Không thể phủ nhận 1 sự thật là trong lớp có một phần đối tượng học sinh học chưa tốt nên sợ học và thường là điểm số thấp. Để tiếp cận đối tượng học sinh đó, tôi thường theo quan điểm đổi mới phương pháp là đổi mới đánh giá theo quá trình và thường có chính sách động viên khích lệ kịp thời từ những tiến bộ nhỏ nhất của học sinh đối với chính bản thân học sinh đó hoặc so với các học sinh khác.
(Ví dụ:- Bình thường có em học sinh có khả năng tiếp thu không tốt,nhút nhát, rụt rè, sợ học và điểm số khi làm bài kiểm tra rất thấp nhưng có những giờ học học sinh này tiến bộ dám giơ tay phát biểu hay chỉ cần nói được 1câu tiếng anh hay xung phong lên bảng viết từ mới tôi không ngần ngại tặng em một điểm 6 hoặc7, dần dần em đó và các học sinh khác thấy có động lực để cố gắng hơn trong học tập.
Tôi cũng tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội làm nhiều bài kiểm tra nhỏ sau mỗi tiết củng cố sau một đơn vị bài học (gồm 5,6 tiết), các con sẽ có cơ hội cố gắng đạt điểm cao trong các bài sau nếu bài trước mình làm chưa tốt, vậy là tôi đã thành công để kích thích các con thêm một lần nữa ôn lại bài mình đã học, giúp cho các con chăm học hơn và dần dần tiến bộ.)
Thứ 5: Với xu thế hội nhập như hiện nay, nhiều trường đã đưa chương trình học Tiếng Anh liên kết với người nước ngoài vào giảng dạy. Tuy nhiên khi đưa vào áp dụng cần cân nhắc tới đối tượng học sinh. Chúng ta chỉ nên áp dụng với các lớp hoặc các đối tượng có đầu vào Tiếng Anh tương đối tốt như các lớp mũi nhọn theo Toán, Văn, Tiếng Anh thì hiệu quả sẽ tốt hơn vì đối với học sinh các lớp đại trà, phần lớn học sinh học trung bình, yếu và sợ học Tiếng Anh do những nguyên nhân như tôi trình bày ở trên thì với thời lượng 1 tiết 1 tuần và lại học thêm 1 giáo trình mới thì sẽ không thu được kết quả như mong muốn.
Trên đây là một vài suy nghĩ của bản thân mang tính chất cá nhân và chủ quan, kính mong được sự đóng góp chia sẻ của đồng nghiệp và quý thầy cô.

TÁC GIẢ: NGUYỄN THỊ THÚY HỒNG

ĐƠN VỊ CÔNG TÁC:  TỔ KHXH – TRƯỜNG THCS NAM TOÀN